Nếu xử idea như xử người...
Phiên toà xét xử idea hoạt động dựa trên quy tắc: Mọi idea đều vô tội, khi nó vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội.
Chào các bạn,
Một tuần Tết vừa rồi của các bạn thế nào?
Mình thì có nhiều thời gian hơn để ngẫm nghĩ về một quy tắc “xét xử idea” được giới thiệu bởi anh Tùng - người sếp đầu tiên của mình, cũng là người có tư duy hệ thống nhất mình từng biết.
Anh có hơn 10 năm kinh nghiệm làm nghiên cứu, phân tích dữ liệu, đánh giá các dự án market-fit tại các công ty nổi tiếng.
Nhưng thay vì chỉ ngồi tay cầm bút chân đút gầm bàn để phân tích, anh dành cả tá thời gian ngoài giờ làm để tự tay làm các dự án cá nhân. Làm, thất bại, rút kinh nghiệm. Rồi lại làm, lại thất bại, lại học tiếp.
Chính nhờ những lần thử và thất bại không ngừng đó, anh đã rút ra được rất nhiều bài học đắt giá.
Nhưng con người mà, chúng ta đều biết buồn trước những thất bại.
Ban đầu, chúng ta đều rất nhiệt huyết với những idea mới. Sau đó, sự nhiệt huyết giảm dần theo thời gian, tương ứng với độ khó tăng dần của quá trình hiện thức hoá idea. Quá trình thực hiện hoá idea khó, thì thường là vì một vấn đề nào đó khó giải quyết trong quá trình đó, ví dụ như thị trường không có, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường, không kiếm ra tiền,...
Từ khó giải quyết thành không giải quyết được, vì thiếu nguồn lực, thiếu kinh nghiệm,... Cuối cùng idea thất bại. Chúng ta đều sẽ học được điều gì đó. Chắc chắn rồi. Như anh Tùng vẫn đang nói và làm. Nhưng chúng ta cũng buồn. Và nếu không thoát ra khỏi được nỗi buồn đó, chúng ta cảm thấy bản thân thật thất bại. Idea thất bại, lúc này trở thành con người thất bại.
Idea có tội tình gì chứ?
Mình đã hỏi anh Tùng về việc này, vì rõ ràng người trải qua nhiều thăng trầm như vậy hẳn là người có kinh nghiệm nhất. Có lẽ mình sẽ học được những điều bổ ích cho năm 2025 của mình.
“Thực tế đó. Mọi idea đều vô tội, khi nó vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội mà. Nếu mà không vượt qua được bằng chứng buộc tội thì thất bại thôi.” Anh Tùng nói tỉnh bơ.
“Mọi idea đều vô tội, khi nó vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội"? Cái này nghe có vẻ lý tưởng quá. Đi từ chỗ “vô tội” tới chỗ “vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội”, tức là đi từ chỗ idea trông còn “sạch sẽ, trong sáng, ngây thơ”, tới chỗ có những bằng chứng được “phanh phui”, rồi còn phải “vượt qua” nữa, thì mất cả mớ tiền, thời gian, công sức rồi. Mất cả mớ tiền, thời gian, công sức bởi vì để có được những “bằng chứng buộc tội” kia, thì phải mang idea ra “ánh sáng” để người dùng cùng thấy, cùng thử, cùng đánh giá,… Để có người dùng thì phải acquire, muốn acquire thì phải bỏ tiền chạy quảng cáo. Chưa kể, người dùng còn có xu hướng nếu lần đầu có ấn tượng xấu với idea rồi thì dù có xa xả kể rằng tôi cải tiến, tôi thay đổi các thứ sau này thì cũng nước đổ lá khoai mà thôi…
Ờ thì…
Có cách nào đoán trước được các “bằng chứng buộc tội” idea từ sớm không?
Từ sớm là từ tầm cái lúc nó chưa phải mang ra “ánh sáng”, từ lúc chưa mất tiền, thời gian, công sức ấy.
“Chắc phải thuê luật sư bào chữa giỏi :))))”. Anh Tùng đùa.
Mình nghĩ anh Tùng không đùa đâu các bạn =))) Có thể anh ta đang tự training bản thân thành một “luật sư bào chữa giỏi” trong khi mình thì đắm đuối ngồi vẽ cái visual meme kia đấy.
Visual dễ hiểu chứ? Nếu không có “bằng chứng buộc tội” idea visual meme của mình thì phiên toà kết thúc!, bạn phải công nhận với mình là idea visual meme này vô tội. :D :D :D
Có bên buộc tội, có luật sư, có bên bị buộc tội - bị cáo (trong trường hợp chúng ta đang thảo luận, bị cáo là idea). Thì còn ngại gì mà không mở một:
PHIÊN TOÀ XÉT XỬ IDEA
Để một phiên toà có thể vận hành được, phiên toà bắt buộc phải có quy tắc để các bên tuân theo. Quy tắc của chúng ta là:
Quy tắc: “MỌI IDEA ĐỀU VÔ TỘI, KHI NÓ VƯỢT QUA ĐƯỢC MỌI BẰNG CHỨNG BUỘC TỘI"
Chắc hẳn bạn cũng đang tự hỏi, tại sao tôi phải vận hành phiên toà này với cái quy tắc này.
Để mình, mình sẽ chứng minh cho bạn: Rule này đỉnh vì 3 lí do dưới đây.
(Mình không phải một người nghiên cứu luật chuyên sâu, chỉ là người tò mò với các concept, quy tắc trong các ngành nghề khác nhau và đi tìm điểm chung để ứng dụng trong công việc của mình. Vì mình tin rằng khi có cách làm mới, thì sẽ có kết quả mới. Do đó, việc ứng dụng một quy tắc trong luật vào mindset trong công việc, cuộc sống hàng ngày cũng là một thử nghiệm mới của mình.
Quy tắc mà mình sử dụng: “Mọi idea đều vô tội, khi nó vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội" được ứng dụng từ quy tắc “Suy đoán vô tội” trong luật. Vì ứng dụng quy tắc trong luật nên luận điểm chứng minh của mình cũng đi từ các tính chất của “Suy đoán vô tội” luôn.)
Ok, 3 lí do vì sao quy tắc: “Mọi idea đều vô tội, khi nó vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội", ứng dụng từ quy tắc “Suy đoán vô tội”, đỉnh và nên được sử dụng làm quy tắc cho Phiên toà xét xử idea của chúng ta:
Quy tắc này mang tính nền tảng (bởi nó ra đời rất sớm và là bước tiến quan trọng), tính quan trọng (bởi nó hình thành nhận thức của con người), và tính ứng dụng (bởi nó được thừa nhận và tuyên bố như quyền cơ bản của con người):
Theo thuvienphapluat: “Trong lịch sử tư pháp hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội ra đời rất sớm và được coi là bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người đối với vấn đề tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên được thừa nhận và tuyên bố như quyền cơ bản của con người tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789. Tuyên ngôn nêu rõ: "Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội, nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt nghiêm khắc".”
Do đó, một quy tắc đã có từ lâu đời, được sử dụng rộng rãi, có ý nghĩa trong quá trình hình thành nhận thức của con người, đã được tuyên bố như quyền cơ bản của con người, được ứng dụng vào phiên toà xét xử idea của chúng ta, là hoàn toàn hợp lý.
Quy tắc này có rất nhiều thành tựu:
Theo thuvienphapluat: “Suy đoán vô tội được ví như là nguyên tắc “vàng” trong tố tụng hình hình sự (TTHS), một thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người và chứng minh trong TTHS đã được thể hiện trong và được quy định trong các văn kiện quốc tế về nhân quyền như Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789 của Cộng hòa Pháp (Déclaration des droits de l’Homme et du citoyen), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights-UDHR), Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR).”
Do đó, một quy tắc đã được công nhận rộng rãi, có nhiều thành tựu, được ứng dụng vào phiên toà xét xử idea của chúng ta, là hoàn toàn hợp lý.
Quy tắc này có ý nghĩa rất lớn, bởi nó được xây dựng dựa trên tâm lý, khả năng, và niềm tin của con người:
Tâm lý: Con người có xu hướng confirmation bias (Thiên kiến xác nhận): Một khi người ta đã tin rằng ai đó có tội, họ có xu hướng chỉ tìm kiếm thông tin củng cố niềm tin đó, bỏ qua những bằng chứng có thể chứng minh ngược lại. Điều này có thể dẫn đến kết án oan sai.
Khả năng: Công dân bình thường không có đủ nguồn lực để điều tra và chứng minh mình vô tội: không thể tiếp cận camera giám sát, dữ liệu điện thoại, hay điều tra nhân chứng như cảnh sát hoặc công tố viên có thể làm. Bằng chứng ngoại phạm không phải lúc nào cũng có. Chỉ có thể đưa ra lời khai dựa trên những việc đã làm. Vì không có khả năng chứng minh bản thân vô tội, nên trước tiên, mọi người được đặt niềm tin rằng họ vô tội.
Niềm tin: Pháp luật không chỉ để trừng phạt mà còn là để duy trì niềm tin: Nếu mọi người cảm thấy họ có thể bị kết án mà không có bằng chứng rõ ràng, họ sẽ sống trong nỗi sợ hãi và mất niềm tin vào hệ thống tư pháp. Kiểu như làm gì cũng bị coi là có tội ấy. Do đó, trước tiên, mọi người được đặt niềm tin là vô tội.
Do đó, một quy tắc đã được nghiên cứu và xây dựng kỹ lượng được ứng dụng vào phiên toà xét xử idea của chúng ta, là hoàn toàn hợp lý.
3 lí do thuyết phục chứ? Nếu không có “bằng chứng buộc tội” 3 lí do của mình thì phiên toà kết thúc!, bạn phải công nhận với mình là 3 lí do này vô tội và được công nhận để sử dụng. :D :D :D
Có Phiên toà, có quy tắc rồi, Phiên toà xét xử idea sẽ được tổ chức như thế nào đây?
3+1 BƯỚC TỔ CHỨC PHIÊN TOÀ XÉT XỬ IDEA
Giả sử, bạn đang mở một “Phiên toà đánh giá ý tưởng”.
Bước 1: Trước tiên, giữ ý tưởng ở trạng thái "Vô tội"
Tương tự như trong pháp lý: Trong một vụ án hình sự, bị cáo luôn được giả định là vô tội (cho đến khi có bằng chứng chứng minh họ có tội ~ không vượt qua được những bằng chứng chứng minh có tội), trong đánh giá ý tưởng, chúng ta cũng giả định rằng ý tưởng sẽ thành công cho đến khi có bằng chứng chứng minh ngược lại. Điều này giúp tạo ra một không gian để ý tưởng phát triển, thử nghiệm và được đánh giá một cách công bằng.
Áp dụng: Khi đánh giá một ý tưởng mới, thay vì vội vàng cho rằng nó sẽ thất bại, hãy giữ quan điểm rằng nó vô tội, nó có thể thành công.
Bước 2: Tiếp theo, hãy vào vai đội ngũ “Công tố viên” - bên buộc tội, đặt ra các “bằng chứng buộc tội: idea này không thể thành công được vì…”
*BƯỚC QUAN TRỌNG* - bước này giúp trả lời câu hỏi mà ban đầu mình đặt ra: Có cách nào đoán trước được các “bằng chứng buộc tội” idea từ sớm không?
Tương tự như trong pháp lý: Công tố viên có nhiệm vụ đưa ra bằng chứng chứng minh tội phạm, trong khi đội ngũ đánh giá ý tưởng sẽ cần phải đặt ra các “bằng chứng buộc tội” về khả năng ý tưởng không thể nào vô tội được (không thể thành công được).
Áp dụng: Đánh giá ý tưởng không thể thiếu việc xác định và phân tích các rủi ro tiềm ẩn, chẳng hạn như: Khả năng thị trường không chấp nhận, đối thủ, chi phí, rào cản công nghệ, khả năng thực thi,…
Bước 3: Tiếp theo, Xây dựng “Đội luật sư” bào chữa và bảo vệ ý tưởng, đặt ra các nghi ngờ hợp lý về các “bằng chứng buộc tội” - “bằng chứng buộc tội này không hợp lý vì…, idea này có thể thành công được vì…”
Tương tự như trong pháp lý: Trong một vụ án, luật sư của bị cáo sẽ tìm cách bảo vệ thân chủ bằng các lập luận, chứng cứ và chiến lược. Đội ngũ đánh giá idea cũng cần phải đặt ra các nghi ngờ hợp lí cho các “bằng chứng buộc tội” - nghi ngờ các “bằng chứng buộc tội” này có hợp lý không?, và tìm kiếm, sử dụng các chứng cứ ủng hộ ý tưởng,
Áp dụng: Các nhà phát triển idea có thể tập hợp dữ liệu hỗ trợ cho ý tưởng, chẳng hạn như thị trường tiềm năng, phản hồi từ người dùng thử nghiệm, mô hình tài chính,… hoặc các nghiên cứu trước đó chứng minh rằng ý tưởng tương tự đã thành công ở nơi khác.
Bước 3+1, điểm khác biệt giữa idea và bị cáo là idea có thể được sửa sai ngay lập tức (bị cáo thì làm rồi, không sửa sai được mà phải trả giá).
Nếu như sau hàng loạt những cuộc combat và idea vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội nhưng chỉ còn một bằng chứng buộc tội chưa vượt qua được, thì cần thực hiện các nghiên cứu, xử lý số liệu, phỏng vấn người dùng, ra mắt phiên bản thử nghiệm,… bổ sung để tiếp tục chứng minh idea vô tội.
Sau khi vượt qua được 7749 kiếp nạn bị buộc tội, idea vẫn vô tội, sạch sẽ, trong sáng và ngây thơ dưới “ánh sáng công lý” thì… chúc mừng bạn, chuẩn bị ngồi đếm tiền thôiiii.
Tất nhiên, trên đây có kha khá giả định của mình trong quá trình ứng dụng từ mindset xử người sang mindset xử idea. Song cũng không thể phủ nhận, não chúng ta không ngừng sản sinh ra các ideas, đặc biệt là trong quá trình trò chuyện với bạn bè, ngồi lại với chính mình, reflection,... Mọi ideas đều vô tội, và quyền sinh quyền sát nằm trong tay người nghĩ ra ideas. Hãy đảm bảo rằng:
Mọi ý tưởng đều vô tội, song, cũng không nên chọn lọc những ý tưởng vô tội…vạ. Hãy chọn lọc những ý tưởng vượt qua được mọi bằng chứng buộc tội.



